Không gian văn hóa Cồng chiêng – nét đẹp Tây Nguyên

Mỗi nơi trên đất nước Việt Nam đều có những truyền thống riêng, tạo nên nét đẹp văn hóa đặc trưng của khu vực đó. Và khi nhắc đến Tây Nguyên, bạn sẽ nghĩ ngay đến không gian văn hóa Cồng chiêng rất nổi tiếng ở đây. Cồng chiêng chính là loại nhạc cụ đặc trưng mà chỉ riêng ở Tây Nguyên mới có. Đây chính là nhạc cụ tạo nên linh hồn của người dân ở đây. Vậy loại nhạc cụ này được thiết kế như thế nào? Ý nghĩa của Cồng chiêng ra sao? Mời bạn tìm câu trả lời về nhạc cụ này của Tây Nguyên qua bài viết này nhé.

Không gian văn hóa Cồng chiêng tạo nên sức hút của Tây Nguyên

Ai đã đặt chân lên đất Tây Nguyên đều bị cuốn hút bởi những buổi trình diễn cồng chiêng. Tháng “ning nơng”, “mùa con ong đi lấy mật”. Và cũng không chỉ trong tháng ning nơng. Quanh năm cao nguyên đất đỏ tràn ngập tiếng cồng chiêng. Tiếng cồng chiêng theo suốt cuộc đời con người. Theo suốt vòng đời cây trồng…

Không gian văn hóa Cồng chiêng tạo nên sức hút của Tây Nguyên
Không gian văn hóa Cồng chiêng tạo nên sức hút của Tây Nguyên

Bắt rễ từ truyền thống văn hóa Đông Sơn. Văn hóa âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên có lịch sử lâu đời. Là phương tiệng khẳng định cộng đồng. Và bản sắc văn hóa dân tộc của cộng đồng các dân tộc ở Tây Nguyên. Cồng chiêng Tây Nguyên vẫn gắn bó vẹn nguyên dáng vẻ dân gian, thô mộc mà chắc khỏe. Tinh tế và sâu lắng nơi núi rừng đại ngàn, cùng với tiếng thác nước ào ạt chảy ngày đêm. Tạo nên một không gian văn hóa đậm chất Tây Nguyên.

Cồng chiêng được dùng như thế nào?

Các dàn cồng chiêng thường gồm nhiều bộ. Mỗi bộ có số lượng khác nhau và đảm nhiệm những chức năng riêng trong cuộc hòa tấu. Cồng chiêng có thể được dùng đơn lẻ hoặc dùng theo dàn. Một bộ có từ 2 đến 12-13 chiếc, thậm chí có nơi tới  18-20 chiếc. Trong một bộ chiêng có chiêng mẹ (chiêng cái) là quan trọng nhất. Tên gọi của cồng chiêng có khi được đặt dựa theo âm thanh nhạc khí phát ra. Có khi là tên gọi theo vị trí của nó trong dàn nhạc.

Trong những dàn có từ 9 cồng chiêng trở lên thì có thêm cồng “cha” bên cạnh cồng “mẹ”. Tiếp theo là các cồng con, cồng cháu… hình thành hệ thống gia đình. Cồng mẹ luôn luôn đứng trước cồng cha. Phù hợp với chế độ mẫu hệ của người Tây Nguyên. Khi biểu diễn, cồng mẹ và cồng cha đánh ra âm thanh trầm gần giống nhau để làm nền cho cả dàn nhạc.

Kế tiếp là 3 cồng con cùng đánh một lượt với nhau thành một hòa âm, có tác dụng như những cây cột chống đỡ trong ngôi nhà. Những chiếc còn lại thì đánh so le theo thứ tự trước – sau, mau – chậm theo đúng quy định, phối hợp với nhau thành ra nét nhạc.

Về nghệ nhân đánh Cồng chiêng

Ở hầu hết các dân tộc Tây Nguyên, nghệ nhân đánh cồng chiêng phải là nam giới. Riêng ngành Bin, dân tộc Êđê, chỉ nữ giới mới được đánh cồng; người Mạ thì cả hai giới đều được đánh chiêng, nhưng thường chia làm hai dàn: chiêng nam và chiêng nữ. Ngoài ra, ở nhiều dân tộc, dàn múa gồm nhiều thiếu nữ trẻ luôn đồng hành với bản nhạc chiêng. Các điệu múa đều không thể thiếu khi diễn tấu các bài chiêng cồng.

Nghệ nhân đánh cồng chiêng phải là nam giới
Nghệ nhân đánh cồng chiêng phải là nam giới

Cồng chiêng cũng là một nhạc cụ rất phổ biến trong nền âm nhạc của các tộc người Việt nam. Nhưng với người Tây Nguyên, cồng chiêng là đại diện, là nguồn sống, là tín ngưỡng tâm linh. Âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng sẽ sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên. Do đó âm nhạc ở đây không đơn thuần là nghệ thuật mà có chức năng phục vụ một sự kiện đặc biệt trong xã hội hoặc trong đời sống hàng ngày.

Văn hóa Cồng chiêng rất có ý nghĩa với người Tây Nguyên

 Hầu như mỗi sinh hoạt đều gắn với nét nhạc. Lúc đứa trẻ mới lọt lòng thì già làng sử dụng  cái cồng xưa cổ nhất đến bên giường để đánh lên những âm thanh đầu tiên lọt vào tai đứa bé, khẳng định nó là một phần của cộng đồng. Khi đứa trẻ lớn lên một giai đoạn của đời sống, từ việc đồng áng cho đến những buổi gặp gỡ nam nữ, khi đón khách, lên nhà mới, hay tang lễ… đều không thể thiếu tiếng cồng chiêng.

Tiếng cồng chiêng hòa nhịp âm vang gợi cho người nghe như thấy được cả không gian săn bắn, không gian làm rẫy, không gian lễ hội… của người nơi đây. Không chỉ có vậy, tiếng cồng chiêng còn đem đến đời sống của người Tây Nguyên sự lãng mạn. Đó chính là nguồn gốc của những áng sử thi, thơ ca đi vào lòng người.

Nhìn chung, văn hóa và âm nhạc cồng chiêng thể hiện tài năng sáng tạo văn hóa – nghệ thuật ở đỉnh cao của các dân tộc Tây Nguyên. Với những giá trị nhân bản như vậy, UNESCO đã công nhận Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa  phi vật thể của nhân loại.

Cần nỗ lực bảo tồn nét văn hóa này

Đời sống kinh tế mới đã phá vỡ kết cấu cộng đồng xưa, các sinh hoạt truyền thống ngày càng ít đi khiến không gian văn hóa cồng chiêng không còn vị trí như trước. Di sản văn hóa này đứng trước nguy cơ mai một lớn, khiến cho việc gìn giữ và chuyển giao các tri thức, bí quyết về cồng chiêng cho thế hệ tương lai gặp nhiều khó khăn.

Cần nỗ lực bảo tồn nét văn hóa này
Cần nỗ lực bảo tồn nét văn hóa này

Xem thêm bài viết về Văn hóa Việt Nam tại đây

Đã có thời gian, nạn mua bán cồng chiêng làm vơi đi rất nhiều số lượng cồng chiêng trong các gia đình, khiến số lượng cồng chiêng ở Tây Nguyên giảm sút tới mức báo động. Tiếng cồng chiêng ngày càng thưa thớt trong đời sống cộng đồng Tây Nguyên.

Thanh niên Tây Nguyên ngày càng ít biết đến những giá trị của cồng chiêng, ít gắn bó với những sinh hoạt của cộng đồng như xưa. Cồng chiêng vì thế trở thành chuyện của người già, dần nằm bên bờ vực của sự mai một. Ngay cả các nghệ nhân nắm giữ những giá trị nghệ thuật cồng chiêng cũng đã mất hoặc còn rất ít. Hầu hết họ đã ở vào độ tuổi “xưa nay hiếm.” Vì thế cần có biện pháp bảo vệ và phát triển nét văn hóa này.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *